Chào mừng quý vị đến với website Nguyễn Thanh Huyền

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Trang thơ >

Happy Valentine.

NGÀY TÌNH NHÂN

Sao cứ phải nói lời yêu

vào một ngày nhất định

sao phải nhờ hoa để nói hộ yêu

sao phải yêu nhau khi thấy buổi chiều

hay buổi sáng khi mặt trời đánh thức

 

nhắm mắt lại

yêu  trong tâm thức

yêu không chiều

không sáng

không cả nỗi không

 

Cũng chẳng cần mầu xanh của lá

mầu đỏ của hoa hồng

chỉ thấy trong veo như nước lọc

nước tan trên môi nước hòa trong mắt

làm thế nào mà tách được nước ra

 

Có tình yêu sẽ héo cùng với cánh hoa

nhưng cả vườn hồng chết có tình yêu vẫn sống

 

Lạ nhỉ

sao yêu nhau phải đếm từng ngày

để gửi cho nhau một cành hoa sẽ héo

 

Ngửa mặt uống tình yêu

trong chiếc ly không đáy

tình trong veo

gọi mãi tình nhân.

Trần mộng tú

  (2/14/2011)

Hôm Nay Ngày L Tình Yêu

 

Hôm nay là Lễ Tình Yêu,

bầy chim sẻ hót như nhiều, nhiều hơn,

và hoa nở hết trong vườn,

và bươm bướm với chuồn chuồn xum xoe.

 

Nắng từ vàng tới đỏ hoe

lung linh sóng bước ai kề với ai!

Hoa thơm, thơm nhất hoa lài

nhưng thơm dịu nhất là hai hoa hồng!

 

Dễ thương ôi hai vợ chồng,

anh đi bước gượm muốn bồng em thôi!

Tình Yêu không buộc không rời,

long lanh như có tơ trời giăng giăng…

 

Chồng kề mặt vợ nói năng,

nói chi ai biết!  Nói thầm ai nghe?

Những đôi trai gái cặp kè,

đường xa xanh cỏ một lề cỏ thơm…

 

Hôm nay là Yêu là Thương,

là không có tiếng Giận Hờn, là vui!

Tôi ngồi ngó đám mây trôi,

ô mây nắng rọi tưởng môi người tình…

 Trn Vn LChuyện Tình của Lãn Ông

 

 

 

 

Một người thầy thuốc tài ba đức độ như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, ông tổ của ngành y Việt Nam, tác giả bộ Y Tông Tâm Lĩnh 66 cuốn, người suốt đời tận tụy chữa bệnh cho mọi người nhưng chỉ mong sao không còn ai bệnh tật để mình được làm một “ông lười” (Lãn Ông) chẳng thú vị sao?

Nhưng thú vị hơn là chuyện tình đầu của ông, được ghi lại khá chi tiết trong Thượng kinh ký sự (*), tập ký viết năm 1783, trên 200 năm về trước:

“Một ngày kia, có hai lão ni đến chỗ tôi ngụ, nói rằng: chùa Huê Cầu đúc chuông lớn, công quả chưa thành, chúng tôi đến đây khuyến hóa”. Thế rồi một lão ni tự giới thiệu mình là trụ trì chùa núi An Tử, còn lão ni kia thì giới thiệu mình là con gái quan tả thừa ty Sơn Nam, quê ở Huê Cầu. “Tôi nghe nói giật mình như tỉnh giấc mơ”, Lãn Ông viết. Sau đó ông tìm cách “hỏi nhỏ một tiểu ni cô trong bọn tòng hành mới hay đây chính là người cũ của mình”. Rõ ràng một lão ni tìm đến một quan nhân (lúc này Lãn Ông đang làm quan thầy thuốc trong triều) để “khuyến hóa” mà lại xưng rõ cái “lý lịch cá nhân” của mình ra như thế hẳn phải có lý do gì đó. Và đúng vậy, chỉ mới nghe qua địa danh Sơn Nam, Huê Cầu thôi đã đủ làm cho Lãn Ông choáng váng... Chuyện đúc chuông, khuyến hóa chẳng qua chỉ là một cái cớ để bà có dịp gặp lại ông.

Tưởng tượng coi, lão ni - người tình cũ của Lãn Ông - đã phải trần tình, năn nỉ, thuyết phục sư bà trụ trì ra sao để sư bà động lòng tạo cơ hội cho hai người gặp lại nhau, chịu cùng xuống núi một phen? Tuy biết khá rõ rồi, nhưng vốn thận trọng, Lãn Ông mới “trắc nghiệm” lại lần nữa, vì biết đâu chỉ là tình cờ trùng hợp, ông bèn kể rõ họ tên quê quán... “Lúc đó chỉ thấy ni cô chùa Huê Cầu mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng, bảo sư bà trụ trì rằng: Thôi, chúng ta đi đi thôi”. Một lão ni nghiêm trang cẩn mật, tuổi tác già nua mà “mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng” rồi còn hối thúc sư bà mau “đi đi thôi” trong một tâm trạng như là dỗi hờn thì thật đáng kinh ngạc. Lãn Ông lúng túng, tìm cách “lưu họ lại không được mới mang ra một ít hương tiền để cúng” rồi hỏi: “Hai lão ni trọ tại nơi nào?”. Họ đáp: “Chưa có nơi nào”, rồi vội vàng từ biệt ra đi. Lãn Ông đâu dễ chịu ngồi yên, ông “vội gọi một tên người nhà linh lợi bảo đi theo sau họ, mà không cho họ biết...”.

Lãn Ông nhớ lại mối tình xưa. Lỗi tại ông. Ông đã nộp đủ lễ vấn danh, lễ nạp thái, vậy mà rồi vì một lý do riêng, ông hồi cư về Hương Sơn quê mẹ và xa luôn người vợ sắp cưới của mình để bà phải mỏi mòn trông đợi đến hôm nay mới bất ngờ gặp lại.

Rồi người thiếu phụ đó ra sao? Lãn Ông có dọ hỏi thì biết bà “thề chung thân ở vậy”. Nhiều người hỏi cưới, bà cương quyết từ chối. Sau cùng, bà vào chùa tu. Lãn Ông viết tiếp: “Tôi nghe biết vậy thì tâm thần kinh loạn, than rằng: vì ta bất cẩn trong việc này. Có thủy mà không có chung, khiến cho người mang hận, mà ta mang tiếng là người bạc bẽo. Ta bối rối không biết cách nào để gỡ cái mối ra, mới vội vàng đến Huê Cầu mà tìm hiểu sự việc”. Quả thật, bà đã từ hôn nhiều người chỉ vì lòng bà chỉ có Lãn Ông thôi. Bà thà đi tu chớ không lấy ai khác nữa!

Bà nói: “Đã có người hỏi mình làm vợ thì mình (coi như) đã có chồng rồi, chẳng qua vô phận mà chồng bỏ...”. Trách chi Lãn Ông không tan nát cõi lòng, “tâm thần kinh loạn”. Để chuộc lỗi mình, ông xin bà cho ông được coi bà như “cô em gái nhỏ”, bảo dưỡng bà suốt đời từ đây. Vì bà đã đi tu nên ông đề nghị cất cho bà một cái chùa nhỏ, trong một cảnh vườn vắng vẻ yên tĩnh: “Mùa đông cũng như mùa hè, lạnh ấm đều sẽ do ta lo liệu, một là để báo ân, hai là để chuộc lỗi...”. Bà cố cầm giọt lệ: “Quan nhân có hậu tình, còn tôi chẳng gặp chồng, cái thân cô khổ cũng là do số mệnh vậy, đâu có dám trách ai... Nay tôi được biết tấm lòng tốt này cũng an ủi cảnh linh lạc vậy”.

Và bà từ chối. Và Lãn Ông làm thơ.

Phải, bởi vì đâu có thứ thuốc nào sắc ba chén còn bảy phân mà chữa được cái bệnh của ông bây giờ! Ông viết: Tôi lấy làm thương tình, mới giãi lòng trong một bài thơ như sau:

“Vô tâm sự xuất ngộ nhân đa

Kim nhật tương khan khổ tự ta

Nhất tiếu tình đa lưu lãnh lệ

Song mâu xuân tận kiến hình hoa

Thử sinh nguyện tác can huynh muội

Tái thế ưng đồ tốn thất gia/Ngã bất phụ nhân nhân phụ ngã

Túng nhiên như thứ nại chi hà?”

Dịch:

“Vô tâm nên nỗi lụy người ta

Trông mặt nhau đây luống xót xa

Gượng cười khôn giấu đôi hàng lệ

Tóc bạc che mờ nửa mặt hoa

Kiếp này hãy kết làm huynh muội

Kiếp khác xin hoàn nghĩa thất gia

Ai nỡ phụ ai, ai nỡ phụ

Dở dang, dang dở biết ru mà?”

(Ngô Tất Tố dịch)

Cảm động vì bài thơ “giãi lòng” đó mà bà đã tha thứ cho ông. Lãn Ông viết: “Từ đó thời thường qua lại hỏi thăm nhau”.

Tuổi hạc ngày càng cao, bà chỉ xin ông mua gỗ ở Nghệ An đóng cho bà một cỗ quan tài. Vâng, phải đúng gỗ ở Nghệ An bà mới chịu, vì đây là vùng Hương Sơn quê mẹ Lãn Ông. Có lẽ bà nghĩ lúc sống đã không được nên duyên chồng vợ thì lúc chết ít ra cũng được nằm trong một cỗ quan tài do ông đóng riêng cho bà từ thứ gỗ của quê hương ông vậy.

Đỗ Hồng Ngọc

 


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Thanh Huyền @ 10:33 11/02/2012
Số lượt xem: 381
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến