Chào mừng quý vị đến với website Nguyễn Thanh Huyền
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Happy Valentine.
NGÀY TÌNH NHÂN
Sao cứ phải nói lời yêu
vào một ngày nhất định
sao phải nhờ hoa để nói hộ yêu
sao phải yêu nhau khi thấy buổi chiều
hay buổi sáng khi mặt trời đánh thức
nhắm mắt lại
yêu trong tâm thức
yêu không chiều
không sáng
không cả nỗi không
Cũng chẳng cần mầu xanh của lá
mầu đỏ của hoa hồng
chỉ thấy trong veo như nước lọc
nước tan trên môi nước hòa trong mắt
làm thế nào mà tách được nước ra
Có tình yêu sẽ héo cùng với cánh hoa
nhưng cả vườn hồng chết có tình yêu vẫn sống
Lạ nhỉ
sao yêu nhau phải đếm từng ngày
để gửi cho nhau một cành hoa sẽ héo
Ngửa mặt uống tình yêu
trong chiếc ly không đáy
tình trong veo
gọi mãi tình nhân.
Trần mộng tú
Hôm Nay Ngày Lễ Tình Yêu
Hôm nay là Lễ Tình Yêu,
bầy chim sẻ hót như nhiều, nhiều hơn,
và hoa nở hết trong vườn,
và bươm bướm với chuồn chuồn xum xoe.
Nắng từ vàng tới đỏ hoe
lung linh sóng bước ai kề với ai!
Hoa thơm, thơm nhất hoa lài
nhưng thơm dịu nhất là hai hoa hồng!
Dễ thương ôi hai vợ chồng,
anh đi bước gượm muốn bồng em thôi!
Tình Yêu không buộc không rời,
long lanh như có tơ trời giăng giăng…
Chồng kề mặt vợ nói năng,
nói chi ai biết! Nói thầm ai nghe?
Những đôi trai gái cặp kè,
đường xa xanh cỏ một lề cỏ thơm…
Hôm nay là Yêu là Thương,
là không có tiếng Giận Hờn, là vui!
Tôi ngồi ngó đám mây trôi,
ô mây nắng rọi tưởng môi người tình…
Trần Vấn LệChuyện Tình của Lãn Ông|
|
|
|
Một người thầy thuốc tài ba đức độ như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, ông tổ của ngành y Việt Nam, tác giả bộ Y Tông Tâm Lĩnh 66 cuốn, người suốt đời tận tụy chữa bệnh cho mọi người nhưng chỉ mong sao không còn ai bệnh tật để mình được làm một “ông lười” (Lãn Ông) chẳng thú vị sao?
Nhưng thú vị hơn là chuyện tình đầu của ông, được ghi lại khá chi tiết trong Thượng kinh ký sự (*), tập ký viết năm 1783, trên 200 năm về trước:
“Một ngày kia, có hai lão ni đến chỗ tôi ngụ, nói rằng: chùa Huê Cầu đúc chuông lớn, công quả chưa thành, chúng tôi đến đây khuyến hóa”. Thế rồi một lão ni tự giới thiệu mình là trụ trì chùa núi An Tử, còn lão ni kia thì giới thiệu mình là con gái quan tả thừa ty Sơn Nam, quê ở Huê Cầu. “Tôi nghe nói giật mình như tỉnh giấc mơ”, Lãn Ông viết. Sau đó ông tìm cách “hỏi nhỏ một tiểu ni cô trong bọn tòng hành mới hay đây chính là người cũ của mình”. Rõ ràng một lão ni tìm đến một quan nhân (lúc này Lãn Ông đang làm quan thầy thuốc trong triều) để “khuyến hóa” mà lại xưng rõ cái “lý lịch cá nhân” của mình ra như thế hẳn phải có lý do gì đó. Và đúng vậy, chỉ mới nghe qua địa danh Sơn Nam, Huê Cầu thôi đã đủ làm cho Lãn Ông choáng váng... Chuyện đúc chuông, khuyến hóa chẳng qua chỉ là một cái cớ để bà có dịp gặp lại ông.
Tưởng tượng coi, lão ni - người tình cũ của Lãn Ông - đã phải trần tình, năn nỉ, thuyết phục sư bà trụ trì ra sao để sư bà động lòng tạo cơ hội cho hai người gặp lại nhau, chịu cùng xuống núi một phen? Tuy biết khá rõ rồi, nhưng vốn thận trọng, Lãn Ông mới “trắc nghiệm” lại lần nữa, vì biết đâu chỉ là tình cờ trùng hợp, ông bèn kể rõ họ tên quê quán... “Lúc đó chỉ thấy ni cô chùa Huê Cầu mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng, bảo sư bà trụ trì rằng: Thôi, chúng ta đi đi thôi”. Một lão ni nghiêm trang cẩn mật, tuổi tác già nua mà “mặt đỏ bừng, vẻ thẹn thùng” rồi còn hối thúc sư bà mau “đi đi thôi” trong một tâm trạng như là dỗi hờn thì thật đáng kinh ngạc. Lãn Ông lúng túng, tìm cách “lưu họ lại không được mới mang ra một ít hương tiền để cúng” rồi hỏi: “Hai lão ni trọ tại nơi nào?”. Họ đáp: “Chưa có nơi nào”, rồi vội vàng từ biệt ra đi. Lãn Ông đâu dễ chịu ngồi yên, ông “vội gọi một tên người nhà linh lợi bảo đi theo sau họ, mà không cho họ biết...”.
Lãn Ông nhớ lại mối tình xưa. Lỗi tại ông. Ông đã nộp đủ lễ vấn danh, lễ nạp thái, vậy mà rồi vì một lý do riêng, ông hồi cư về Hương Sơn quê mẹ và xa luôn người vợ sắp cưới của mình để bà phải mỏi mòn trông đợi đến hôm nay mới bất ngờ gặp lại.
Rồi người thiếu phụ đó ra sao? Lãn Ông có dọ hỏi thì biết bà “thề chung thân ở vậy”. Nhiều người hỏi cưới, bà cương quyết từ chối. Sau cùng, bà vào chùa tu. Lãn Ông viết tiếp: “Tôi nghe biết vậy thì tâm thần kinh loạn, than rằng: vì ta bất cẩn trong việc này. Có thủy mà không có chung, khiến cho người mang hận, mà ta mang tiếng là người bạc bẽo. Ta bối rối không biết cách nào để gỡ cái mối ra, mới vội vàng đến Huê Cầu mà tìm hiểu sự việc”. Quả thật, bà đã từ hôn nhiều người chỉ vì lòng bà chỉ có Lãn Ông thôi. Bà thà đi tu chớ không lấy ai khác nữa!
Bà nói: “Đã có người hỏi mình làm vợ thì mình (coi như) đã có chồng rồi, chẳng qua vô phận mà chồng bỏ...”. Trách chi Lãn Ông không tan nát cõi lòng, “tâm thần kinh loạn”. Để chuộc lỗi mình, ông xin bà cho ông được coi bà như “cô em gái nhỏ”, bảo dưỡng bà suốt đời từ đây. Vì bà đã đi tu nên ông đề nghị cất cho bà một cái chùa nhỏ, trong một cảnh vườn vắng vẻ yên tĩnh: “Mùa đông cũng như mùa hè, lạnh ấm đều sẽ do ta lo liệu, một là để báo ân, hai là để chuộc lỗi...”. Bà cố cầm giọt lệ: “Quan nhân có hậu tình, còn tôi chẳng gặp chồng, cái thân cô khổ cũng là do số mệnh vậy, đâu có dám trách ai... Nay tôi được biết tấm lòng tốt này cũng an ủi cảnh linh lạc vậy”.
Và bà từ chối. Và Lãn Ông làm thơ.
Phải, bởi vì đâu có thứ thuốc nào sắc ba chén còn bảy phân mà chữa được cái bệnh của ông bây giờ! Ông viết: Tôi lấy làm thương tình, mới giãi lòng trong một bài thơ như sau:
“Vô tâm sự xuất ngộ nhân đa
Kim nhật tương khan khổ tự ta
Nhất tiếu tình đa lưu lãnh lệ
Song mâu xuân tận kiến hình hoa
Thử sinh nguyện tác can huynh muội
Tái thế ưng đồ tốn thất gia/Ngã bất phụ nhân nhân phụ ngã
Túng nhiên như thứ nại chi hà?”
Dịch:
“Vô tâm nên nỗi lụy người ta
Trông mặt nhau đây luống xót xa
Gượng cười khôn giấu đôi hàng lệ
Tóc bạc che mờ nửa mặt hoa
Kiếp này hãy kết làm huynh muội
Kiếp khác xin hoàn nghĩa thất gia
Ai nỡ phụ ai, ai nỡ phụ
Dở dang, dang dở biết ru mà?”
(Ngô Tất Tố dịch)
Cảm động vì bài thơ “giãi lòng” đó mà bà đã tha thứ cho ông. Lãn Ông viết: “Từ đó thời thường qua lại hỏi thăm nhau”.
Tuổi hạc ngày càng cao, bà chỉ xin ông mua gỗ ở Nghệ An đóng cho bà một cỗ quan tài. Vâng, phải đúng gỗ ở Nghệ An bà mới chịu, vì đây là vùng Hương Sơn quê mẹ Lãn Ông. Có lẽ bà nghĩ lúc sống đã không được nên duyên chồng vợ thì lúc chết ít ra cũng được nằm trong một cỗ quan tài do ông đóng riêng cho bà từ thứ gỗ của quê hương ông vậy.
Đỗ Hồng Ngọc
Nguyễn Thanh Huyền @ 10:33 11/02/2012
Số lượt xem: 381
- Thuyền em và tôi (11/02/12)
- Trầu Cau Qua Ca Dao - Thi Ca (03/02/12)
- Về thôi (Lưu Trọng Văn ) (03/02/12)
- Đêm Ba Mươi (28/01/12)
- NGƯỜI ĐÀN BÀ THỨ HAI (19/01/12)

Các ý kiến mới nhất